Buồn Vui Quân Trường

Nguyễn Đình Phúc

 

Từ lớp Thiếu Sinh Quân trẻ tuổi nhất quân đội tới người lính già Quân …”Cụ”, ai cũng trải qua những năm tháng quân trường, qua những “lò luyện thép” với những kỷ niệm buồn vui. Tuy thế vẫn có một loại lính cả đời không bao giờ cần thụ huấn ở đâu, đó là lính “ma” hay tuy có đủ hình hài, xương thịt, diện quân phục rất hách, nhưng chỉ phất phơ, tà tà đó là lính “kiểng”. Cả hai loại “ma, kiểng” có chi để nói.

 

Người viết là lính “một trăm phần trăm em ơi” nhưng thời gian khoác “trây-di” vỏn vẹn “chín tháng mười ngày”, kỷ niệm quân ngũ chỉ dài từ Chợ Nhỏ vào quanh vòng đai trường Bộ Binh, ra đồi Tăng Nhơn Phú, Tự Tin là hết đất. Tuy vậy cũng có đôi lần hành quân xa tới tận…Sài-gòn, đứng đúng “thế gác giặc”oai dũng tại Cầu Bông, Xa Lộ tưởng chừng như Trương Phi trên cầu Trường Bản năm xưa đứng ngăn Tào tặc. Chỉ khác Tào đâu chẳng thấy, chỉ thấy “nắng Sàigòn anh đi vừa chợt mát, bởi vì em mặc áo lụa Hà Ðông”. Bây giờ nghĩ lại võ nghiệp chỉ có bấy nhiêu, chiến tích chẳng vẻ vang gì, nhưng thôi cũng là kỷ niệm, góp nhặt niềm vui nỗi nhớ viết lại chung với anh em.

 

Kỷ Luật Là Sức Mạnh Của Quân Đội…

 

Xuống xe, lội bộ hết con dốc, mồ hôi vã như tắm, trình giấy trạm gác cổng số 1 trường Bộ Binh Thủ Ðức xong, tôi ngước mắt bắt gặp ngay tấm bảng lớn “Kỷ Luật Là Sức Mạnh Của Quân Ðội”. Lòng nhủ thầm: thôi hết rồi quãng đời dân sự thừa thãi tự do, bắt đầu “Cư An Tư Nguy”, không còn “cứ ăn cứ ngủ” như xưa nữa.

 

Hành trang “cùng nhau ta đi tòng quân” của tôi rất đơn sơ trong chiếc túi du lịch nhỏ nhưng không thể thiếu chiếc gối quen thuộc vì chứng khó ngủ của mình. Viên Sĩ Quan Trực Liên Ðoàn hỏi lý do khi nhìn chiếc gối. Tôi thực tình kể bịnh, anh mỉm cười bí hiểm. Sau này suy ra mới biết lúc đó anh đã nghĩ gì. (Sợ khó ngủ hở? rồi đây ngồi ngủ, đứng ngủ, ngay cả đi cũng còn ngủ được nữa chứ làm gì có bệnh khó ngủ trong quân trường mà lo).

 

Khai khóa, sinh viên được vỡ lòng ngay bài “Chào kính”. Tổng Cục Quân Huấn xếp vào bài đầu, đúng là “tiên học Lễ hậu học…Võ” vì nếu không rành lon lá, cấp bậc trên dưới để chào kính, lệnh lạc sẽ thành cá mè một lứa, còn ra “thống chế” gì. Ngày đầu SVSQ Ðại Ðội Trưởng chẳng biết đã học lóm ở đâu mà coi mòi bài bản cũng khá. Khi tập họp xong, anh ta đằng sau quay rồi dõng dạc báo cáo quân số bằng giọng địa phương anh: “SVSQ Tuần Sự Ðại Ðội Trần Ngọc Tại báo cáo Thiếu Úy: tổng số 186, hiện diện tại hàng 180, vắng mặt 6 có lý do, đang đi uống “cà phe”. Ðại Ðội tập họp xong trình diện Thiếu Úy”.

 

Cả đại đội phá lên cười vì đi uống “cà phê” được báo cáo có lý do, thì còn gì không lý do, nhất là “cà phê” thành “cà phe” rặt tiếng quê anh. SQ trực lập nghiêm, phạt chung 50 hít đất, 50 nhẩy xổm vì tội “cười trong hàng quân”. Thôi hãy “thi hành trước, khiếu nại sau”.

 

Khóa 23 lần lượt có hai Liên Ðoàn Trưởng đều rất mực oai phong vì lạ gì thầy Cai quân trường còn oai, nói chi đến Thiếu Tá LÐT. Hai ông cùng họ Hà nhưng cách đối xử với SV rất trái ngược nhau. Ông Hà Hữu Viên dễ dãi đủ điều: trả phép trễ, đi đứng, ăn mặc ra sao cũng “xà và, OK” chỉ riêng vụ tóc râu rất ư gay gắt. Khi khám tóc, bàn tay lùa sát da đầu nếu ngọn tóc cao hơn kẽ tay là cháy phép, lãnh phạt như chơi. Sau mới hay trời cho ông lơ thơ mấy sợi tóc mây nên dễ ngứa mắt. Ngược lại ông Hà Văn Tấn kế nhiệm ông lại khó đủ mặt ngoại trừ vụ tóc sẽ nói sau. Gặp ông không mấy ai không lãnh quả tạ, nên SV thường dặn nhau “tránh voi chẳng xấu mặt nào”. Lệ thường cuối tuần đích thân ông đứng kiểm SV đi phép, trả phép. Trước khi đụng mặt ông đã qua biết bao cửa ải, nhưng vẫn dễ dàng cháy phép vì chuyện cỏn con (bút nịt, giầy không bóng đủ soi gương, nếp ủi áo quần không đủ bén để cạo râu…). Riêng tóc tai không bao giờ ông đả động tới, nhiều tay để dài như ngoài dân sự cũng chẳng hề gì vì trời cho ông mái tóc rất ư là đẹp nên ít khi thấy ông đội “mão”. Gặp Tướng CHT ông miễn cưỡng, nhè nhẹ chụp mũ lên đầu chào tay. Khi Tướng quay đi, ông lẹ làng cất mũ, vuốt lại mái tóc mượt mà.

Sau giai đoạn I, “cá có đuôi” có anh tên Phú từ Ðại Ðội 18 chuyển sang. Phú vóc dáng chỉ lớn hơn Ông Ðạo Dừa chút xíu, mang biệt danh “Vua Ba Lẻ Một” (301 là đơn vị Quân Cảnh), vì thời gian Phú nằm tù 301 và “nhẩy dù” ngang ngửa ngày giờ thụ huấn của anh. Tôi là SV vũ khí nên phải nắm vững số súng để lại giá súng và số SV mang theo ra bãi. Ngay ngày đầu Phú mới sang, tôi thấy sai số, khi ra bãi thấy Phú đang bị ÐÐT cật vấn. Phú tỉnh bơ báo cáo súng đạn nặng quá sức nên anh bỏ lại trại còn hỏi lại ÐÐT đã không mang súng, cần chi mang đạn (dây đạn anh mang toàn mã tử). Tất nhiên anh được lãnh ngay giấy đi 301. Ở tù ngủ vùi vài ngày đã mắt, anh rên la khai bệnh, xin chuyển Bệnh Xá. Lên BX nghỉ ngơi, uống vài viên APC hùng dũng khai hết bệnh xin về Ðại Ðội đi học. BX mấy khi gặp bệnh binh tự giác cao độ như vậy nên cho xuất viện ngay. Nhưng thay vì về Ðại Ðội, anh ra khu Thiết Giáp, chui rào khúc “Khe Sanh”, đáp xe Lam dù về Sàigòn với “người yêu của lính”. Quân Cảnh hết nhiệm vụ vì đã chuyển Bệnh Xá, Bệnh Xá đã cho xuất viện, Ðại Ðội vẫn ghi Phú nằm yên 301. Gần một tuần du dương với “người yêu của lính” ghé thăm ít cô “em gái hậu phương”, đến lúc “vui xuân không quên nhiệm vụ” Phú đón xe kiểm thực từ Chợ Ông Lãnh vào trường. SQ trực lại tặng lệnh phạt mới, dù phạt cũ chưa thi hành xong. Chín tháng quân trường, tội danh Phú cũng chỉ đại loại nhẩy dù, hay tự ký phép…ngôi “Vua 301” vẫn không hề mất. Thủ Ðức có loại phép thường đi từ trưa thứ bảy đến sáng chủ nhật hoặc từ sáng chủ nhật đến chiều và phép đặc biệt đi suốt cả hai. Phú luôn cấp phép đặc biệt cho mình hoặc nếu không cũng Thiếu Tá Tường hay Ðại Úy Rào (trèo tường, leo rào) ký phép có khó gì đâu. Trình diện sớm nhất cũng sáng thứ hai hay sang thứ ba để rồi ôm mùng mền lại lên 301. Ngày mãn khóa, SV trực đọc danh sách làm bộ bỏ tên Phú để hù. Ðến nước này đâu còn “rỡn mặt tử thần” lần đầu anh em thấy Phú tái mặt vì ngỡ “cánh gà” (rớt ra trung sĩ). Nhưng sau vẫn Thiếu Tá “lỗ” (chuẩn úy) như ai, nghe đâu còn về quân huấn.

 

Trong đơn vị, ai cũng thương anh vì thể chất yếu đuối, nhưng tánh tình dí dỏm, dễ mến. Mọi chuyện anh làm anh chịu. Ðêm đêm còn được nằm nghe anh xổ tiếng Pháp, kể chuyện bù khú với đầm gìa đầm non bên Tây trước khi hồi hương nhập ngũ. Từ khi ra trường chưa một lần gặp lại, nhiều khi nhớ anh lại ngậm ngùi nếu như chẳng may anh phải vào tù cải tạo như phần đông không biết anh chịu khốn khổ ra sao. Thọ phạt theo quân kỷ từ hít đất, nhẩy xổm, dã chiến…đến 301 cũng nhằm trau dồi tinh thần, thể chất khác hẳn đòn thù của giặc. Ðồn canh ngoài cổng số 1 gắn tấm gương lớn, gần bên khẩu hiệu “nhìn quân phục biết tư cách” cũng là chuyện dài người lính, nhất là lính quân trường. Ngay khi nhập khóa có bao nhiêu cái lỉnh kỉnh về quân phục, quân trang, quân dụng…ai ai cũng phải tuân hành. Áo quần xếp trong ngăn tủ phải luồn miếng nẹp cứng như bày hàng bán, “sac marin”, nệm giường cũng khung vuông góc nhìn như nệm mút, mọi điều đều phải thế này thế khác, động từ toàn “mệnh lệnh cách”. Quân trường tìm đâu ra những phụ tùng lỉnh kỉnh này nếu không mua của các HSQ, binh sĩ rồi khi mãn khóa liệng đi. Lúc ấy mấy anh lượm lại, tân trang tiếp tục bán cho khóa tới.

 

Quân phục mỗi ngày trút ra có nhà thầu giặt ủi, cuối tuần trả lại. Xứ mình những cái liên quan đến đấu thầu xem ra không khá, chỉ hơn những cái quốc doanh sau này. Cơm nhà bàn sao bằng cơm khu thiết giáp, gia binh. Quân phục vàng bát phố phải trông vào anh em binh sĩ “làm ăn cá lẻ”, “kinh tế thị trường”.

 

Nhớ lại chuyện o ép quân phục, quân trang chắc chẳng ai vui, nhưng khi “tan hàng, gãy súng” niềm đau mới thấm. Cũng vẫn những bộ quân phục mới ngày nào thẳng nếp trên vũ đình trường, chào cờ, duyệt quân…ngày nay tả tơi, bước thấp bước cao…

 

Thao Trường Đổ Mồ Hôi

Chương trình chia ra học phòng, học bãi. Học phòng thường quân phục vàng số 2, mát mẻ, nhẹ nhàng, vai đeo túi “rết” (cũng có khung bên trong như cặp da), nhưng buồn ngủ khủng khiếp lại dễ bị từ thầy Cai đến ông Tướng nhòm ngó. Khi qua dinh, chẳng biết tướng ông, tướng bà thức ngủ nhưng cờ tướng còn bay phất phới là anh em cứ tự nhiên chào kính như thần dân bái vọng thiên tử. Di chuyển nhiều khi chạy bộ hay đều bước cũng phải cất cao tiếng hát quân hành hay Thủ Ðức Hành Khúc:” Ngày ra đi vợ mất thông nòng, ngày ra đi là vợ chờ mong…”

 

 

 

    

 

Cứ nhìn trên mũ nhựa Huấn Luyện Viên là biết ngay môn học. Tổng Quát TQ, Chiến Thuật CT, Tác Xạ Vũ Khí Mìn TVM… Chiến thuật hệ số 24 cao nhất với 4 ông “kẹ” (nhất Ðống, nhì Bèo, tam Giang, tứ Lý), TVM với khẩu hiệu răn đe: ”Ở đây không có sự bất cẩn lần thứ hai”. “Trợ Huấn Cụ” đồ nghề lỉnh kỉnh, Biểu Diễn Viên miệng ngậm nhưng tay múa may như tiếp viên phi hành nhắc nhở an phi. “Vận chuyển cơ hành” Garant “em-mờ-mệt” với 7 động tác : 4 tiến (nạp đạn, khóa ngàm, dự kích, kích hỏa) 3 lùi (mở khóa ngàm, móc vỏ đạn, tống vỏ đạn). Trước đó phải học “lấy biểu xích”, học đường nhắm đúng: “là đường thẳng tưởng tượng đi từ mắt người xạ thủ xuyên trung tâm lỗ chiếu môn, qua đỉnh đầu ruồi đến dưới điểm đen”.

 

Học phòng phần nhiều lý thuyết, ra bãi thực hành tuy mưa nắng nhưng thoải mái hơn. SV đại diện, khí giới nào giỏi ngoại giao, quân xa đưa ra bãi ưu tiên chót, tha hồ cà phê thuốc lá, súng cộng đồng chở tới tận nơi. Khi đón về ưu tiên một dù học chưa xong cũng “đại đội lui binh”, về phòng ăn no tắm mát, CLB Chiều Tím, Diệm Song, khu Thiết Giáp…bạn ta tối mịt mới “lắc lư con tàu” mò về đến đại đội, nước tắm cạn, nhai cơm nhà bàn nguội ngắt nguội ngơ khác nào cơm cúng. Khiêng súng lên kho còn bị chê súng dơ, mất nắp ống hơi, gãy bộ máy cò, kim hỏa…ngồi viết “7 bản tình ca” đến khuya chưa xong.

 

Nghĩ lại từ một “bạch diện thư sinh”, vào quân trường “lính mới tò-te”, sau 9 tháng trở thành cán bộ chỉ huy cũng đâu phải tự nhiên, dễ dàng có được. Từ những bài học cá nhân “quan sát, ẩn nấp”, biết “mắt nhắm, mắt mở” khi hỏa châu bật sáng, biết chống hai tay chịu trận khi bom đạn nổ quanh…biết “mưu sinh thoát hiểm” cho mình rồi mới lãnh đạo chỉ huy. Môn nào cũng lớp lang dạy từ dễ đến khó, đơn giản đến phức tạp. Nếu không biết “thủ hiệu, thủ lệnh” thì làm gì biết “thám sát, thám kích” nói gì đại đội “tấn công ngày, tấn công đêm”. Học bãi nhàn nhã nhất không gì bằng toán “giả địch”. Nhiều khi đơn vị tấn công, đạn nổ liên hồi, hò hét nhưng “mặt trận miền Tây vẫn hoàn toàn yên tĩnh”, chẳng khác gì vào chỗ không người, không tìm đâu ra “địch”, sinh nghi cất tiếng gọi hóa ra “giả địch” vì “gió mát trăng thanh” còn đang say ngủ. Tấm “poncho” tưởng chỉ dùng khi mưa, lúc nắng cùng lắm “hữu dụng” bên nhau ngoài khu tiếp tân sau những ngày dài cấm quân, “cúp” phép. Nào ngờ “poncho” thành phao, mang cả quân trang, chiến cụ vượt sông, đổ bộ ngon ơ. Bài “dây tử thần”, “tuột núi” đồi Tự Tin mới nghe ghê gớm, nhưng qua một lần nhiều anh còn tình nguyện tuột thêm, tắm mát chẳng muốn bước lên. “Mưu sinh thoát hiểm” chẳng nghĩ khi nao áp dụng, nhưng vào tù cải tạo thành môn hữu ích hàng đầu. Mỗi khi rừng già lạc lối, nhớ nguyên tắc “ở yên chớ sợ” để tìm lối về “nạp mạng” nếu không “đòn thù” thịt nát xương tan vì chụp ngay âm mưu trốn trại. “Mưu sinh” cũng dạy cỏ cây có thứ lành thứ độc, nhưng trong tù con gì nhúc nhích đều bị ăn tươi nuốt sống ngoại trừ con “bù-loong” mới được tha mạng, phóng sinh.

 

Học tác xạ khoái nhất xuống sâu đường hầm nhờ “job” quay bia mát mẻ, an toàn. Sân bắn Quang Trung dựng bảng lớn nhắc tân binh: ”bạn đã hơ đỉnh đầu…ruồi chưa?” (anh em thường đưa mắt nhìn nhau tủm tỉm), còn các “quan” đâu cần hơ hóng gì nữa. Bắn ngày, bắn đêm, bắn đứng, bắn nằm, bắn quỳ ngay cả vừa đi vừa bắn vẫn trúng “điểm đen” vì “quân bạn” đã dùi sẵn trên “bia”, bằng thiện xạ có chắc đeo trên nắp áo giựt le. Bò “hỏa lực” đạn đại liên 30 cài chéo cứ nhắm mắt theo nhau, đầu xuôi đuôi lọt. Học bản đồ, không ảnh với “quan ba” Tuấn, “Vua địa hình”, mắt sáng như sao, râu “ghi-đông-cuốc” như tướng Năm Lửa xưa kia. Dù học hành ra sao chấm tọa độ, đi “phương giác” vẫn sai cả mấy cây số, lạc tới lạc lui. Nhưng lo chi cứ tìm mấy em bán sương xâm vừa giải khát, vừa ngắm “vòng cao độ” rồi mấy em chỉ đâu cứ xông vô đó, bảo đảm trúng phóc, tối về phòng còn “vẽ bản đồ” tùm lum. Học đã khó vậy, thực hành giải đoán không ảnh còn khó chừng nào: “rờ-moọc” xe be chổng càng khác gì cao-xạ phòng không.

 

Dù chỉ là Trung Ðội Trưởng Bộ Binh, nhưng căn bản về chuyên môn, về các binh chủng, binh sở cũng không thể thiếu. Truyền Tin học từ sợi dây điện thoại PT 76 kết từ 7 sợi nhỏ (4 thép, 3 đồng), antenne lá lúa, antenne dù, GRC 87 dưới đất khi gắn trên xe thành VRC 87, ngụy thoại Quang Trung Ðống Ða Cải Cách Hồng Hà (QÐCH), vác “biểu tín hiệu” chạy tới chạy lui như hát bộ chạy cờ… Học Quân Xa, Quân Vận mới biết GMC 6 bánh (2 đơn, 4 kép) chứ không 10 bánh, Commando Car V100 dù bánh xe trúng đạn vẫn dượt thêm cả 60 cs để VC “vắt giò lên cổ”, “chém vè”. Học Quân Y, Quân Báo, Quân Nhu, Quân Cụ, Quân Cảnh, Quân Nhạc, Quân Bưu…ngay cả Quân Khuyển. Học cách “lên xe xuống ngựa”, “trực thăng vận” khom lưng, góc trước 45 độ, tránh phía sau con tàu ngoắc đuôi mất nơi đội nón…

 

Sinh Viên Thủ Ðức như gái đang xuân, bao nhiêu bướm ong ve vãn. Chưa ra trường, Không Quân đem tàu biểu diễn hỏa lực, phi pháo, oanh tạc bom đạn ngút trời, Pháo Binh kéo pháo nòng dài, “cường tập” long trời lở đất, “giường gối rung rinh”, Kỵ Binh cầy sập địa đạo, mật khu… tất cả biểu dương lực lượng mong dành Thủ Ðức về mình. Nhưng mấy ai chịu “ôm cầm thuyền khác”, phần đông chung tình để giữ ngôi “nữ hoàng chiến trường” vì chiến thắng nào không chờ bước bộ binh.

 

Lẽ ra quân trường chỉ thuần huấn luyện, nhưng cuộc chiến ngày càng ác liệt, nhiều anh em đã sớm hy sinh, máu đã đổ thay vì chỉ đổ mồ hôi. Giai đoạn 2, người SV đã thành đầu đàn thêm trách nhiệm bảo vệ đàn em. Doanh trại, giường nệm chỉ còn dùng trình diễn vì đêm nay ứng chiến, đêm sau canh gác, đêm kế phục kích ngoài xa rồi trở lại ứng chiến.

 

Cổng số 1 quan to, súng lớn ra vào không thể phất phơ, vọng số 3, số 4 mất ngủ vì pháo đội tác xạ suốt đêm, vọng 6 ấm êm lý tưởng như ngủ phòng lại gần khu dân sinh tiện cháo khuya cà-phê sớm. Từ những vọng 13, 14, 15 xa tít tắp chỉ vác đạn mang TL BAR đã muốn đứt hơi. Gác đôi gác ba, vài giờ SQ tuần phiên, Cố Vấn Mỹ lại đến kiểm tra. Chậm theo nhau đánh kẻng cầm canh lập tức điện thoại SQ trực đổ hồi. Tiêu lệnh gác cấm ngồi. Một lần toán gác 3, tôi đứng ngoài trời, một trong “lô-cốt”, anh kia nhớ mãi tên Sum đứng trên tháp canh. Về sáng, Sum dặn khi có tuần phiên lắc thang báo động, anh chỉ ngồi nghỉ ít phút. Lát sau, SQ đến sát giao thông hào, tôi lắc thang đánh động, chẳng kịp hô mật khẩu. SQ leo lên tháp gom đủ súng đạn mang xuống mới cho lệnh đánh thức Sum còn nằm mớ ú ớ ngon ơ. Chuyện gì xẩy ra ai ai cũng biết.

 

Trở lại chuyện cơm nhà bàn chắc đâu đâu cũng tệ như nhau: hết rau muống su-su xào lại xào rau muống su-su. Gà vịt vào nồi rồi không cánh vẫn bay sao vì chỉ một gà những 10 cổ, 20 cánh? Cơm càng thừa, heo nhà thầu càng nặng ký, lên cân. Ra bãi nếu còn “địa” kiếm bánh tét, dĩa cơm anh tài xế mang theo bán lén. Tối về, vợ con binh sĩ gánh chè cháo đến tận đầu phòng.

 

Nếu chẳng may Q.C tảo thanh bắt giữ hết vốn hết lời, nên “phe ta” tận tình cất dấu giúp cho. Bữa sau, chị em thập thò đầu trại xin lại quang gánh, tiền nong.

 

Gĩa Nhà Đeo Bức Chiến Bào…

 

Từ vào cuộc sống mới quân trường, dù “lò luyện thép” nhưng đâu phải “địa ngục trần gian”. Tuy mồ hôi trưa nắng, ướt lạnh chiều mưa, ăn không kịp nuốt, ngồi đứng ngay cả bước đi “con ma ngủ” không tha cứ kéo ghì mí mắt, nhưng cũng biết bao hạnh phúc, niềm vui.

 

Trong những tuần huấn nhục chưa phép, nghe tiếng loa:” SVSQ…ra ngay khu tiếp tân có thân nhân tìm gặp!” ai chẳng mong có tên mình. Cha mẹ, anh em thăm hỏi xong thường đứng ngồi đâu đó để “đôi trẻ” ái ân. Nhiều đôi chỉ tấm “poncho” cũng đủ mặn nồng dù “dã chiến” bên nhau. Trực tiếp tân nhìn ngắm thiên hạ yêu đương, có khi ”nai vàng ngơ ngác”, “hoa thơm vô chủ” cũng thành “tình lính tính liền”.

 

Cho đến khi từng đoàn thợ may vào trại đo ly tấc, phép “Alpha huy hoàng” ló dạng. Bao nhiêu buổi tập “Quì xuống các ngươi! Ðứng dậy các tân SVSQ”, rồi bút nịt soi gương, giầy Map kiến bò lên còn té xuống… Ngày giờ trọng đại: trên vũ-đình trường khi pháo bông vụt sáng rực trời là lúc đoàn GMC mở máy đưa từng đoàn SVSQ đi phép Alpha. Quân phục số 2 thẳng nếp, alpha vàng, dây biểu chương mầu anh dũng trên vai…48 giờ phép thần tiên…

 

Từ đây hàng tuần đúng nghĩa “bẩy ngày đợi mong”. Cũng có lần tưởng được “truy lãnh” mà nhiều khi nào chú bác, dì dượng, anh em, họ hàng nội ngoại, lối xóm đón đưa, ngồi ám đến khi hết phép ra đi. Trên đường vào trường nhẩm lại bài tác xạ sao đúng quá. “Thế bắn nằm thủ thế! 3 viên nạp đạn! Mở khóa an toàn!” chỉ còn chờ lệnh khai hỏa. Hơn nữa đã là lính đâu chỉ quen một thế bắn nằm, mà bắn qùy, bắn ngồi ngay cả vừa đi vừa bắn cũng vẫn trúng “điểm đen” như thường, nhưng thềm bắn vẫn chưa “hết an toàn”, còn đầy chướng ngại vô duyên thì làm sao mà bắn. Vào trường nhiều anh mặt chảy dài, tay xách cam táo, bơ sữa vợ yêu sắp sẵn mang theo tẩm bổ hẹn “truy cấp” tuần sau. Sau Alpha, “cá có đuôi”, chọn ngành hay tiếp tục giai đoạn 2. Nhiều người có chuyên môn ngoài dân sự, chọn được ngành thích hợp còn gì vui hơn.

 

Trong khóa học, nhiều lần Biệt Ðoàn Văn Nghệ Trung Ương, Chính Huấn…vào trình diễn. Ðại Giảng Ðường (hay đại hỏa lò) nóng như thiêu trở thành mát mẻ với các nàng ca sĩ “người yêu của lính” ngọt ngào, sướt mướt kiểu Dạ Lan, để rồi bão lại nổi lên khi Tuyết Nhung, Xuân Trang mang “núi lửa” ra “biểu dương lực lương”.

 

Thật ra niềm vui đích thực, sâu xa của người trai thời loạn chúng ta không chỉ ở những giờ phép, vui chơi, múa hát…mà đã chọn được con đường chiến đấu vì Chính Nghĩa dưới ngọn cờ vàng ba sọc đỏ. Những chiều dừng quân trên đồi Tự Tin nhìn giòng xe cộ ngược xuôi xa-lộ, những câu chuyện thân thương với đồng bào thôn ấp bên đường, hay từ vọng gác cao nhìn xóm làng trong giấc ngủ yên hàn…mới đích thực là niềm vui.

 

“Ðoạn đường chiến binh” bao xa cũng có ngày tới đích: 9 tháng dài cũng đến ngày tốt nghiệp. Từ khóa 23 về trước đại lễ phục trắng toát dài rộng đã nhìn quen mắt, khóa 24 về sau kiểu West Point bó sát, ngắn gọn, mầu nâu nhiều anh lạ mắt gọi kiểu “bồi phòng khách sạn”. Dù kiểu mới hay cũ cũng khác nào áo cưới cô dâu chỉ mặc một lần rồi cất làm kỷ niệm. Ðại Lễ Mãn Khóa trên Vũ Ðình Trường thủ khoa “kiếm cung hồ thỉ”, lời thề sắt son “Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm” âm vang, nhịp bước quân hành oai dũng. Lễ Truy Ðiệu trước Trung Nghĩa Ðài, Quân Kỳ rủ dưới ánh đuốc bập bùng, kèn chiêu hồn bi ai.

 

Từ mãn khóa chia tay, anh em mỗi người một ngả, cùng khắp 4 vùng chiến thuật. Dù hỏa tuyến hay phòng sở, dù Mũ Ðỏ hay Mũ Xanh, dù Tổ Quốc Không Gian hay Rừng Núi Sình Lầy…cùng Bảo Quốc An Dân, cùng con yêu Tổ Quốc. Cá nhân tôi trở về nhiệm sở cũ, mặc lại bộ đồ dân sự nhưng luôn nghĩ mình là một chiến binh với những buồn vui kỷ niệm. Vẫn bồi hồi khi thấy bộ chiến y, vẫn ước ao một ngày trở lại mái trường xưa, tìm khung trời cũ. Hiệp Ðịnh Paris, hội thảo Quân Cán Chính toàn quốc không ngờ địa điểm chọn Trường Bộ Binh. Tôi đã được đi dọc đường xương sống từ cổng số 1 tới số 9, qua dinh Ông Tướng, ghé vào Thư Viện, lên Trường Võ Thuật, qua Liên Ðoàn xuống các Ðại Ðội... Tản bộ dưới những con đường rợp bóng, như nghe được cả khúc hát quân hành, tiếng hô dõng dạc, oai nghi. Qua Trường Thiết Giáp, chiếc xe tăng vẫn nằm phơi mưa nắng như cuộc đời lính chiến phong sương.

          

Tôi đã cùng Tr/Úy Hương, ÐÐT/ÐÐ3/TÐ1 lúc này là Th/Tá Quận Trưởng Xuyên Mộc, Phước Tuy đi tìm thầy cũ, bạn xưa. Ð/Úy Danh TÐT/TÐ1 trong chiến phục Tr/Tá CSDC, Th/Tá Tấn LÐT lên Tr/Tá Quận Trưởng Gò-Vấp, Tr/Tá Ðào Duy Ân, TMT Tướng 1 sao TLP/QK3, Chuẩn Tướng Trần Văn Trung, CHT giữ Tổng Cục CTCT lấp lánh 3 sao…còn bao người khác tìm được hay chẳng bao giờ.

 

Với tôi, từ người HSQ dậy cơ bản thao diễn đến Ông Tướng, họ vẫn là những “ông Thầy”, ngôi “trường Mẹ” Bộ Binh cho thêm kiến thức vào đời, nắng mưa Tăng Nhơn Phú trui luyện mình tôi.

 

Xin mãi mãi TRI ÂN, ước mong một ngày gặp lại.

 

NGUYỄN ÐÌNH PHÚC

SQ 62/106 792